Kinh lá là loại kinh Phật của Phật giáo Nam tông Khơ-me chỉ có ở vùng Bảy Núi (An Giang), được những bậc tiền bối đạo hạnh cao thâm và tài hoa viết bằng chữ Khmer trên lá cây buông.

Truyền nhân cuối cùng của Kinh lá
Đó là hòa thượng Chau Ty, tuổi đã ngoài 60, trụ trì chùa Soài So thuộc xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ông là truyền nhân đời thứ 9 và cũng là người cuối cùng ở Bảy Núi có thể viết được kinh trên lá buông – báu vật thiêng liêng của người Khơ-me Nam Bộ. Chúng tôi tìm tới ông vào một buổi chiều mưa nặng hạt. Tiếng mưa rả rích đưa chúng tôi vào không gian viết kinh Phật trên lá buông thêm màu hoài niệm.

Hòa thượng Chau Ty hướng dẫn PV Người đưa tin cách viết Kinh lá

Theo lời hòa thượng Chau Ty, đây là loại kinh của Phật giáo Nam tông Khơ-me, được những bậc tiền bối đạo hạnh cao thâm và rất đỗi tài hoa viết bằng chữ Khơ-me trên lá cây buông qua nhiều thế hệ rồi được truyền giữ nên giá trị tinh thần văn hóa là vô giá. Tiếng Khơ-me gọi kinh lá là slấc-rich (một kiểu viết như in ấn, khắc họa trên lá Sa-Tra – cây buông). Đây là loại cây trước đây mọc nhiều ở vùng núi Cấm nhưng hiện nay gần như không còn. Theo lời truyền lại của các sư sãi, kinh lá ra đời cách đây hàng trăm năm. « Ban đầu, kinh lá xuất hiện một phần do điều kiện thiếu giấy mực, các sư ở chùa nghĩ ra cách dùng lá để ghi chép, nhằm thuyết pháp và lưu truyền cho thế hệ con cháu. Vì thế họ nghĩ mọi cách để tìm ra phương pháp lưu truyền những bài kinh của dân tộc mình », trụ trì chùa Soài So cho biết.
Ban đầu, các vị tiền bối đạo hạnh tìm một số lá cây trên rừng về viết thử nhưng chẳng loại nào lưu giữ được quá 6 tháng. Hòa thượng Chau Ty cho biết: « Sau đó nhiều năm, họ tìm ra lá buông, một loại lá cùng họ với thốt nốt, có nguồn gốc từ Campuchia đã từng mọc trên núi Cấm, chiều dài của lá gần gấp đôi lá thốt nốt. Đặc biệt, sau nhiều lần xử lí với mục đích viết chữ trên lá, lá buông cho kết quả khả quan hơn những lá khác vì sức dẻo dai lại và độ mịn vượt trội hơn. Tuy nhiên, để có được những tấm lá cho việc viết kinh, các nhà sư phải tốn rất nhiều công sức và chuẩn bị hết sức công phu. Theo đó họ cũng phải rèn luyện cách viết chữ (Kinh) trên lá rất tinh vi và tỉ mỉ ».

Kinh lá trong chùa Xà Tón (Thị Trấn Tri Tôn – An Giang)

Công phu chế tác báu vật độc đáo
Theo lời hòa thượng Chau Ty, việc viết chữ trên lá buông cần có công phu sáng tạo độc đáo bởi nó không giống như cách viết trên giấy thông thường. Người viết phải tập luyện, rèn giũa nét chữ rất kỳ công. Thuở xưa, các vị cao nhân còn phải tập khắc chữ trên đá trước, vì viết trên đá để cho nét chữ cứng cỏi, lâu ngày quen tay rồi mới viết trên lá thì chữ mới thanh thoát được. Kinh lá được viết bằng loại bút có ngòi sắt được giũa nhọn gọi là Đék-cha, thân bút bằng gỗ được bào tiện trau chuốt cho vừa tay người cầm, gần cuối ngòi bút có đoạn thép được đính chắc chắn vào thân gỗ để giữ cho thân bút bền và đẹp hơn.
Nói về công phu chế tác báu vật, hòa thượng Chau Ty cho hay: « Khi viết Kinh trên lá buông, tay phải người viết cầm bút còn tay trái giữ lá, đồng thời đầu bút phải tựa lên ngón cái của bàn tay trái giữ lá ấy để làm điểm tựa cho nét chữ không bị nguệch ngoạc. Khi viết, ngón tay cái sẽ điều khiển đầu bút. Cái khó nhất là sự kết hợp nhịp nhàng, đều đặn giữa hai tay và nét viết phải có cùng một độ sâu. Nói là viết chứ thực ra chẳng khác gì khắc họa, song không đơn giản như viết chữ trên giấy ».
Theo hòa thượng Chau Ty: « Chỉ cần viết sai một chữ hoặc khi viết làm nguệch ngoạc nét chữ cũng coi như vứt bỏ cả trang. Do trước đó các bậc cao nhân đi trước có răn dạy rằng viết kinh Phật phải chu toàn, sạch sẽ, phải tỉ mỉ từng li, từng nét một. Người viết kinh Phật phải là người đức hạnh cao thâm ».
Viết chữ trên lá xong, công đoạn tiếp theo để hoàn thành một trang kinh là tẩm mực lên lá để mực thấm vào nét chữ đã viết. Mực có thể được làm bằng than hoặc trái mặc nưa có màu xanh đen. Sau đó mang trang kinh đã tẩm mực ra phơi nắng, chờ cho mực khô, lau sạch tất cả mực tẩm trên trang kinh đi thì hiệ