Trang Chủ Chuyên Đề Phật Giáo Trong Đời Thường Biết ơn cha mẹ

Biết ơn cha mẹ

Email In
Xem kết quả: / 2
Bình thườngTuyệt vời 

Có hai hạng người, này các tỷ kheo. Ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai ? Mẹ và Cha.

Nếu một bên vai cõng mẹ, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm cho đến 100 tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa,  gội và xoa dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện, đại tiện, như vậy, này các tỷ kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha…

...Nhưng ai đối với mẹ cha không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào (thiện) giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các tỷ kheo là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha. --

(Tăng chi bộ kinh I, Chương 2, Phẩm Tâm thăng bằng, HT. Thích Minh Châu dịch)

Hôm nay, lại một ngày đặc biệt, một ngày tốt lành nữa tại Amaravati. Sáng nay nhiều bạn có mặt tại đây để làm lễ Trai tăng cúng dường và hồi hướng phước báu  đặc biệt cho cha mẹ của mình - những người đã qua đời cũng như những người đang còn sống.  Ngày hôm nay, chúng ta đang hướng tâm về kataññu kataveti, tiếng Pāli có nghĩa là lòng biết ơn. Lòng biết ơn làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn.

Để phát triển kataññu, chúng ta sẽ cố ý nghĩ đến những điều tốt đẹp đã được làm cho chúng ta trong cuộc sống. Vì vậy, vào ngày này, chúng ta đặc biệt nhớ đến những điều tốt đẹp của cha mẹ chúng ta, và chúng ta nghĩ tưởng đến chúng. Chúng ta không nghĩ đến sai sót, lỗi lầm của họ, thay vào đó, chúng ta cố ý chọn để chỉ nhớ đến những điều tốt đẹp. Và lòng tốt mà cha mẹ của chúng ta đã dành cho chúng ta - mặc dù trong một số trường hợp, cha mẹ có thể không phải lúc nào cũng luôn rộng lượng đối với chúng ta. Đây là một ngày trong năm tưởng nhớ đến cha mẹ của chúng ta với lòng biết ơn và nhớ lại tất cả những điều tốt đẹp họ đã làm cho chúng ta.

Cuộc sống mà không kataññu là một cuộc sống không có niềm vui. Nếu chúng ta không có điều gì để biết ơn, cuộc sống của chúng ta sẽ chỉ là một sự buồn thảm. Hãy suy ngẫm về điều này. Nếu cuộc sống chẳng là gì ngoài một sự than phiền và ca cẩm không ngừng về sự thiếu công bằng và bất công mà chúng ta đã nhận được và chúng ta không nhớ bất cứ một điều gì tốt đẹp đã từng được làm cho chúng ta, tất cả những gì chúng ta nhớ chỉ toàn là những chuyện xấu -  cái đó được gọi là trầm cảm, và đây là một vấn đề rất phổ biến trong xã hội chúng ta hiện nay. Khi chúng ta rơi vào trầm cảm, chúng ta không thể nhớ bất kỳ điều gì tốt đã từng xảy ra với chúng ta. Một cái gì đó dừng lại trong não của chúng ta và làm cho não của chúng ta không còn khả năng tưởng tượng lại được một thứ gì gọi là hạnh phúc đã từng xảy ra trong cuộc đời của chúng ta: Chúng ta nghĩ rằng sự bất hạnh này sẽ  là mãi mãi.

Tại Sri Lanka, và khắp châu Á, kataññu kataveti  là một nét văn hóa về mặt đạo đức, nó được đánh giá cao và trau dồi. Giúp đỡ, đỡ đần cho cha mẹ và chăm sóc họ được xem là một phước lành lớn lao trong cuộc sống. Điều này thật thú vị đối với chúng ta, những người xuất thân từ nền văn hóa phương Tây, bởi  các giá trị phương Tây hơi khác nơi đây một chút.

Nhiều người trong số chúng ta đã có cuộc sống may mắn, nhưng mặc dù chúng ta tốt số, chúng ta thường có xu hướng cho rằng mọi sự chúng ta có được là điều mặc nhiên. Chúng ta có những đặc quyền và hưởng nhiều phúc lợi, và có một cuộc sống tốt hơn nhiều so với một bộ phận người dân khác trên thế giới đang mong đợi để có được những gì chúng ta đang có. Có rất nhiều thứ để chúng ta biết ơn, rất nhiều thứ để chúng ta cảm thấy kataññu, khi bạn sống trong một nơi giống như ở nước Anh đây.

Tôi nhớ lại khi tôi còn bé thơ, và những gì mà cha mẹ tôi đã dành cả cuộc đời của họ để nuôi nấng và chăm sóc tôi và em gái của tôi. Khi tôi còn nhỏ,  tôi đã chẳng thấy sự hy sinh của cha mẹ tôi có ý nghĩa gì. Là một đứa trẻ sống ở Hoa Kỳ, chúng tôi không nghĩ gì về công ơn của cha mẹ, chúng tôi xem việc cha và mẹ phải nuôi dạy mình như là một chuyện tự nhiên. Và chúng tôi không thể nhận ra những gì họ đã hy sinh, những gì họ phải từ bỏ để nuôi dưỡng chúng tôi. Chỉ khi chúng ta lớn hơn và đã từ bỏ mọi thứ vì lợi ích của những đứa con của chính mình hoặc cho một ai đó, chúng ta mới bắt đầu hiểu và cảm thấy kataññu kataveti cha mẹ của chúng ta.

Tôi nhớ lại cha tôi. Ông đã từng là một nghệ sĩ đầy tham vọng trước cuộc  suy thoái vào năm 1929. Sau đó là sự sụp đổ kinh tế năm 29 đến, cha và mẹ tôi đã mất tất cả, vì vậy ông phải làm công việc của một người bán giày. Em gái tôi và tôi được sinh ra trong giai đoạn suy thoái, và cha phải làm việc vất vả để nuôi chúng tôi. Sau đó, chiến tranh thế giới thứ II bắt đầu,  cha tôi đã quá già không thể tham gia nhập ngũ, nhưng ông muốn đóng góp cho cuộc chiến, vì vậy ông đã trở thành một người sửa tàu tại New Seattle. Ông làm việc trong một xưởng đóng tàu. Ông không thích công việc đó, nhưng đó là cách tốt nhất mà ông có thể góp phần cho cuộc chiến. Sau đó,  khi  chiến tranh kết thúc, ông trở lại với công việc bán giày của mình và trở thành người quản lý của một cửa hàng bán lẻ. Khi tôi lớn lên và nói chuyện với ông , tôi thấy rằng ông chưa bao giờ thực sự thích làm công việc đó,  nhưng ông cảm thấy mình đã quá già không thể tìm một công việc khác. Sự hy sinh những sở thích riêng của ông chủ yếu là để nuôi sống mẹ của tôi, em gái của tôi và tôi.

Tôi đã có một sự lựa chọn lớn hơn nhiều, có nhiều cơ hội tốt hơn. Thế hệ của tôi có rất nhiều triển vọng sẵn dành cho chúng tôi khi chúng tôi còn trẻ. Tuy nhiên, cha mẹ tôi không có những cơ hội như vậy, thế hệ của họ phải xoay sở với cuộc sống và họ phải bắt đầu làm việc khi họ vẫn còn khá trẻ. Cả cha lẫn mẹ của tôi đều có năng lực nhưng họ không có cơ hội để phát triển xa hơn, ngoài cách thông thường kiếm sống.

Khi tôi còn ở trường đại học trong những năm 1950, phong trào thời đó là học tâm lý học.  Thanh niên thời đó có xu hướng đổ lỗi cho mẹ của mình tất cả mọi thứ sai lầm trong cuộc sống của họ. Mọi tội tình đều quy cho mẹ và những gì mà bà đã làm chính là nguyên nhân của sự đau khổ hiện nay của tôi.

Tôi đã không nhận ra rằng đau khổ là một điều tự nhiên của con người. Tất nhiên mẹ tôi không hoàn hảo, bà ấy đã không hoàn toàn giác ngộ khi bà có tôi, vì vậy theo lẽ tự nhiên có nhiều thứ lẽ ra bà đã có thể sửa đổi hoặc cải thiện. Nhưng nói chung, sự tận tụy, bổn phận, tình thương, và chăm sóc tất cả đều ở đó – nơi bà, và chủ yếu là để làm cho cuộc sống của cha tôi, em gái tôi và bản thân tôi được tốt đẹp và hạnh phúc chừng nào tốt chừng ấy. Đó là một sự dâng hiến – bà đòi hỏi rất ít cho bản thân mình. Vì vậy, khi tôi nghĩ lại như vậy, kataññu, lòng biết ơn đối với cha mẹ sinh khởi trong tâm tôi . Bây giờ tôi khó có thể nghĩ của đến bất kỳ lỗi lầm của cha mẹ mà trước đây chúng đã làm chủ tâm trí của tôi khi tôi còn trẻ, bây giờ chúng dường như hóa ra quá nhỏ nặt, tôi hầu như không nhớ bất kỳ lỗi lầm nào của họ nữa.

Tuy nhiên, nếu chúng ta tiếp tục sống với sức mạnh của thói quen và nếp suy nghĩ thường nhật,  chúng ta sẽ tiếp tục mắc kẹt với tất cả mọi thứ đã thấm sâu vào tâm khảm chúng ta - với những thói quen mà chúng ta huân tập từ khi chúng ta còn trẻ - và những thứ này có thể làm chủ  ý thức của chúng ta khi chúng ta lớn tuổi hơn.

Tuy nhiên, khi chúng ta trưởng thành và trở nên chín chắn, chúng ta nhận ra được rằng chúng ta có khả năng tập cho mình trở nên khéo léo hơn trong cách suy nghĩ về chính bản thân mình cũng như trong cách  suy nghĩ về người khác. Đức Phật khuyến khích chúng ta nghĩ đến những điều tốt đẹp đã được cha mẹ,  thầy, bạn bè, bất cứ ai, đã làm cho chúng ta và làm điều này một cách có chủ ý để trưởng dưỡng chúng, để cố ý làm cho chúng trở thành những hạt giống mạnh nằm trong tâm thức của chúng ta, chứ không phải để mặc cho mọi sự diễn ra một cách vô tình .

Khi tôi trở thành một tu sĩ Phật giáo ở Thái Lan, tôi đã rất may mắn gặp một người thầy,  Luang Por Chah, người đã khơi dậy kataññu trong đời tôi. Lúc đó tôi  khoảng 33 hoặc 34 tuổi và phải nói rằng kataññu chẳng có chút gì quan trọng đối với cuộc sống của tôi. Tôi vẫn còn ám ảnh rất nhiều về chính bản thân mình, về những gì tôi muốn, những gì tôi nghĩ. Tuy nhiên, sau khi tu tập như một tu sĩ Phật giáo trong một vài năm, khoảng năm thứ sáu của cuộc sống trong tu viện, tôi đã có một kinh nghiệm về kataññu kataveti và nó đã mở cánh cửa của trái tim của tôi.

Tôi đã là một Phật tử trong nhiều năm trước khi tôi gặp Luang Por Chah. Phật giáo lôi cuốn tôi  vào  năm tôi khoảng  21 tuổi, và vì vậy tôi rất thích và có niềm tin rất lớn vào Phật giáo, tôi rất háo hức muốn nghiên cứu và thực hành tôn giáo này. Nhưng nó vẫn còn xuất phát từ ý thức của cái Tôi: Tôi làm việc đó, Tôi nghiên cứu nó, Tôi đang cố gắng để thực tập nó. Khi tôi trở thành một nhà sư,  mối quan tâm về cái Tôi này vẫn chi phối mạnh mẽ tâm trí mình: "Tôi muốn thoát khỏi đau khổ, Tôi muốn được giác ngộ.” Tôi đã không quan tâm nhiều về người khác, về cha mẹ của tôi, hoặc ngay cả về Luang Por Chah, người mà tôi đang sống bên cạnh vào thời điểm đó. Với tôi, ngài hữu ích cho tôi, điều ấy thật tốt (và 'cảm ơn '), nhưng đó không phải là một lòng biết ơn sâu sắc.

Có một thứ ngã mạn, một thứ khó chịu của lòng tự phụ: Tôi  có ý tưởng rằng cuộc sống nợ tôi mọi thứ. Khi chúng ta được nuôi dưỡng trong gia đình thuộc tầng lớp trung lưu, chúng ta coi nhiều thứ mà chúng ta có quanh ta như là một sự mặc nhiên. Cha mẹ tôi đã làm việc vất vả để làm cho cuộc sống của tôi dễ chịu thoải mái, nhưng tôi nghĩ họ nên làm việc chăm chỉ hơn, tôi xứng đáng hơn những gì họ đã cho tôi. Mặc dù đây không phải là một ý nghĩ có ý thức, từ sâu trong tâm thức  của tôi, có một thái độ cho rằng tôi xứng đáng với tất cả những gì tôi có, tôi có tất cả những điều này là đúng, mọi người phải  cung cấp cho tôi những thứ này, cha mẹ tôi nên làm cho cuộc sống của tôi thoải mái chừng nào càng tốt chừng ấy, họ phải làm cho cuộc sống của tôi tốt đẹp đúng như ý của tôi muốn.  Xuất phát từ quan điểm ấy, tôi xem việc  giảng dạy và hướng dẫn cho tôi là nhiệm vụ của Ajahn Chah!

Đôi khi tôi tự cao tự đại cho rằng sự hiện diện của tôi là một phước lành và tài sản lớn của tu viện. Đây không phải là  những suy nghĩ có ý thức, nhưng khi tôi bắt đầu quán chiếu những gì trong tâm của tôi, tôi có thể thấy sự tự cao tự đại này, và nhận diện  được nó. Chúng ta thường xem nhiều thứ mà chúng ta có được như một sự hiển nhiên nên chúng ta phàn nàn rằng cuộc sống là không tốt, không phong phú, không có các đặc quyền như chúng ta tưởng, nếu không như vậy thì chúng ta cũng nghĩ rằng những người khác có cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống của chúng ta rất nhiều .

Tại Thái Lan, tôi đã tu tập siêng năng và đã xác định sẽ theo đuổi đời sống trong tu viện. Sau năm mùa an cư,  một vị tu sĩ không còn được coi là một Sa di tập sự và có thể tự mình ra đi. Tôi cảm thấy việc tu tập với một vị thầy là tốt nhưng tôi muốn tự mình ra đi, vì vậy tôi đã từ miền Đông Bắc  đi đến miền Trung Thái Lan.

Sau mùa an cư,  tôi thực hiện một chuyến hành hương đến Ấn Độ. Đây là vào khoảng 1974, và tôi quyết định đi như một tudong - du tăng-  đi bộ từ nơi này đến nơi khác như là một phần của việc tu tập của tôi. Có người cúng dường cho tôi một vé máy bay từ Bangkok đến Calcutta, và rồi tôi thấy mình ở Calcutta với bát khất thực và y, và vì tôi không mang theo tiền - không có  xu. Tại Thái Lan, không có tiền cũng chẳng sao, nhưng, ở Ấn Độ, đi lang thang loanh quanh với chiếc bát khất thực và không có tiền dường như là một điều khá đáng sợ. Như những gì đã xảy ra, trong 5 tháng tôi ở tại Ấn Độ khá là một cuộc phiêu lưu và tôi có những kỷ niệm rất thú vị trong thời gian đó. Sống cuộc đời của một du tăng  cũng ổn ở Ấn Độ. Trong số tất cả các nước, nên phát triển việc tu tập theo hình thức đi khất thực ở đó, vì đó là nơi Đức Phật đã sống và giảng dạy

Trong khoảng thời gian này tôi bắt đầu nghĩ đến Luang Por Chah. Tâm tôi bắt đầu nhận ra lòng tốt mà ngài đã dành tôi. Ngài đã nhận tôi làm đệ tử của ngài,  chăm sóc tôi, dành cho tôi sự quan tâm, dạy dỗ  và đã giúp tôi  hầu như trong mọi mặt. Và tôi còn tìm thấy nơi ngài một tấm gương. Nếu bạn muốn trở thành một tu sĩ, bạn sẽ muốn được như ngài. Ngài là một con người đúng nghĩa, một người truyền cảm hứng cho tôi, một người mà tôi muốn phấn đấu để đạt tới và tôi phải nói là không phải có nhiều người đã khiến cho tôi có cái cảm giác muốn hướng tới như vậy. Các kiểu mẫu đàn ông tại Hoa Kỳ không  hấp dẫn tôi nhiều, John Wayne hoặcTổng thống Eisenhower, Richard Nixon không phải là mẫu đàn ông tôi muốn phấn đấu tới. Ngôi sao điện ảnh và các vận động viên  rất được coi trọng, nhưng không ai trong số họ truyền cảm hứng cho tôi.

Nhưng khi ở Thái Lan, tôi tìm thấy vị tu sĩ này. Ông ấy rất nhỏ con, tôi cao hơn ngài rất nhiều. Khi chúng tôi bên nhau,  đôi khi tôi ngạc nhiên, bởi vì sự hiện diện của ngài quá lớn. Bất chấp kích thước nhỏ bé của mình, ngài dường như luôn luôn to lớn hơn tôi rất nhiều. Thật là thú vị - quyền lực, hào quang của con người bé nhỏ này - tôi thực sự đã không nghĩ về ngài như một con người nhỏ bé, tôi xem ngài  là một người con người vĩ đại, và điều này là chính la do  tâm từ (mettā) của ngài. Ngài là một người có tâm từ rất lớn. Đây cũng là cái mà mọi người cảm nhận từ ngài và nó đã thu hút người ta đến với ngài, ngài giống như một thỏi nam châm và bạn muốn được gần gũi với ngài. Vì vậy, tôi thấy mình cứ đi qua cốc (kuti) của ngài để gặp ngài vào các buổi tối, hoặc bất cứ khi nào có thể, tôi muốn tận dụng mọi cơ hội tôi đã có để quanh quẩn bên ngài.  Và tôi thấy rằng đó là cách đối xử mà hầu hết mọi người đều dành cho ngài. Ngài đã có rất nhiều người ủng hộ  gồm cả người Thái và người Tây phương ở Thái Lan, do sự  tu tập tâm từ của ngài. Một lần tôi hỏi ngài cái gì trong ngài nó đã thu hút mọi người với ngài, và ngài nói, "Tôi gọi nó là thỏi nam châm của tôi". Ngài  là một người rất duyên dáng, ở ngài có sự sôi nổi, sự chói sáng, và mọi người tụ tập chung quanh ngài. Và ngài đã sử dụng thỏi nam châm  của mình để thu hút mọi người đến với ngài để ngài có thể dạy  Pháp cho họ. Đây là cách ngài đã sử dụng uy tín của mình: không phải cho bản ngã của ngài, nhưng để giúp mọi người.

Tôi cảm thấy một cảm giác biết ơn rất lớn về những việc ngài đã làm - rằng ngài đã dành cả đời mình để dạy dỗ cho các cư sĩ và tu sĩ khó dạy như tôi, phải chịu đựng với tất cả chúng tôi - những người không ngừng tạo ra các rối rắm, do chúng tôi đã bị ám ảnh bởi chính mình,  với những ham muốn, nghi ngờ, ý kiến ​​,quan điểm của chúng tôi. Bị bao quanh cả ngày lẫn đêm bởi những người mà tâm không ngừng bị quấy động cần phải  có tâm từ thực sự, và ngài có phẩm chất đó. Ngài lẽ ra có thể lánh vào một nơi tốt đẹp và sống cuộc sống yên tĩnh. Đó là những gì tôi muốn làm vào thời điểm đó. Tôi muốn được giác ngộ để tôi có thể sống một cuộc sống tốt đẹp, an vui một cách hạnh phúc ở một nơi yên bình, dễ chịu. Tôi muốn tất cả mọi người trong tu viện phải hòa hợp với nhau và hòa hợp với tôi để không có xung đột hay va chạm. Nhưng trong một tu viện ở Thái, luôn luôn có rất nhiều vấn đề và khó khăn. Trong Luật Tạng có đủ mọi câu chuyện về những gì các nhà sư thường làm khiến  Đức Phật phải chế ra những hướng dẫn để xử lý kỷ luật. Một số các quy tắc dùng để đối phó với những điều khủng khiếp mà các nhà sư thường làm. Một số trong các Tỳ kheo sống gần  Đức Phật đã thật khả ố.

Đức Phật, sau khi giác ngộ, ban đầu  suy nghĩ rằng Giáo Pháp  quá là vi diệu, không ai có thể hiểu được và như vậy  không thể giảng dạy được. Sau đó, theo truyền thuyết, một trong các vị thần đến và nói, “Vì lợi ích của những người có ít bụi trong mắt họ, xin Ngài hãy giảng dạy Giáo Pháp.” Đức Phật sau đó dùng  tâm lực mạnh mẽ của mình quán chiếu xem ai có thể hiểu được  Giáo Pháp. Ngài nhớ những vị thầy đầu tiên của Ngài, nhưng qua năng lực quán chiếu của mình, Ngài nhận ra rằng cả hai người thầy đã qua đời. Sau đó, Ngài nhớ năm người bạn đã cùng tu tập với Ngài trước đây và đã bỏ Ngài ra đi. Vì lòng từ bi, Ngài đã đi tìm năm người bạn này, và truyền đạt giáo lý chói sáng của Ngài về Tứ Diệu Đế. Điều này khiến tôi cảm thấy kataññu kataveti đối với Đức Phật. Đó là điều tuyệt diệu: rằng tôi  – cái gã này đây, trong thế kỷ này – vẫn có được cơ hội để lắng nghe Giáo Pháp, những lời dạy uyên nguyên vẫn sẵn sàng cho tôi áp dụng và thực hành.

Ngoài ra, có một người thầy sống động như Ajahn Chah không giống như thờ phụng  một vị tiên tri đã sống cách đây 2500 năm, mà giống như tôi có một vị thầy thực sự kế thừa dòng dõi của Đức Phật. Có lẽ do nhờ đến viếng các thánh địa Phật giáo ở Ấn Độ, kataññu kataveti bắt đầu trở nên rất mạnh mẽ trong tôi . Nhận thấy điều này, và sau đó nghĩ về Luang Por Chah tại Thái Lan, tôi nhớ trước đây tôi đã nghĩ như thế này: “Mình đã tu tập ở đây năm năm, bây giờ mình sẽ ra đi. Mình sẽ làm vài chuyến phiêu lưu, làm những gì mình muốn làm, tránh khỏi ánh mắt của ông già này.” Tôi hiểu ra rằng lúc đó tôi đã thực sự tháo chạy.

Vào thời điểm đó có nhiều người phương Tây đến tu viện của chúng tôi ở Thái Lan, và tôi không muốn bị họ làm phiền. Tôi không muốn  dạy và làm phiên dịch cho họ, tôi chỉ muốn sống cuộc sống của riêng tôi và không muốn bị những người này quấy rầy. Vì vậy, đã  có một động lực rất ích kỷ trong tôi thúc đẩy tôi ra đi, trên hết là  tôi đã bỏ lại cho Luang Por Chah  tất cả những người phương Tây này mà không một ai nói được tiếng Thái. Vào thời điểm đó, tôi là người duy nhất có thể dịch cho những người phương Tây vì  Luang Por Chah không nói được tiếng Anh.

Khi tôi cảm thấy  kataveti kataññu, tất cả những gì tôi muốn làm là quay lại Thái Lan và dâng hiến bản thân mình cho Ajahn Chah. Làm cách nào để bạn có thể báo ân một vị thầy như thế? ... Tôi không có tiền, và dẫu gì  đó cũng không phải là thứ mà ngài quan tâm. Sau đó, tôi nghĩ rằng cách duy nhất tôi có thể làm cho ngài  hạnh phúc là trở thành một nhà sư tốt và quay trở lại và giúp ngài, bất cứ điều gì ngài muốn tôi giúp, tôi sẽ làm điều đó.

Với ý định đó,  tôi đã trở lại sau năm tháng ở Ấn Độ và dâng hiến bản thân mình cho vị thầy. Đó là một sự dâng hiến đầy hân hoan, không phải miễn cưỡng, bởi vì nó xuất phát từ kataññu, lòng biết ơn đối với những điều tốt đẹp tôi đã nhận được. Kể từ đó, tôi thấy rằng thiền tập của tôi bắt đầu cải thiện. Thói khó chịu  ích kỷ  trong tôi vỡ ra: cái Tôi cố gắng để  đạt một cái gì đó, mong muốn của Tôi cho một sự hòa hợp, Tôi mong muốn sự tu tập của Tôi để có một cuộc sống yên bình, Tôi không muốn chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì nhưng chỉ muốn làm những việc của riêng Tôi. Khi tôi  từ bỏ tất cả những điều đó, mọi thứ dường như đi vào đúng vị trí của chúng. Những gì thường được cho là khó khăn, chẳng hạn như việc tập trung tâm trí, trở nên dễ dàng hơn, và tôi thấy rằng cuộc sống của mình trở nên vui vẻ. Tôi bắt đầu tận hưởng cuộc sống tu viện. Tôi không còn ngồi loanh quanh và suy nghĩ, “Các huynh đệ đang quấy rối sự yên tĩnh của mình, mình không thích tu viện này - Mình muốn đi đến một nơi khác” như trước nữa. Tôi cũng không còn cảm thấy bực bội như trước đây : “Vị sư này quấy rối việc hành thiền của mình, mình không thể sống ở đây “ và v.v…Sự bẳn tính này đã từng là chướng ngại cho việc tu tập của tôi, nhưng bây giờ những việc này, và những việc đã từng xảy ra trong tu viện, không còn là các vấn đề quan trọng đối với tôi nữa.

Thật ra, tôi đã nghĩ rằng khi tôi quay trở lại, tôi sẽ xin Ajahn Chah  gửi tôi đến một tu viện mà không có nhà Sư nào muốn đến đó, chẳng hạn một chi nhánh của tu viện nằm gần biên giới Campuchia. Đó là Wat Suan Bahn Kluey, “ tu viện Làng Vườn Chuối". Nó ở trong rừng xa xôi hẻo lánh, đường sá xấu, và đó là một vùng rất kém phát triển của Thái Lan,  người dân nơi đó rất nghèo. Ở đó rất nóng và các cây ở đó thấp hơn cả tôi. Tên tu viện là Làng Vườn Chuối  mặc dù tôi nhìn thấy chẳng có chuối nhiều nhặn gì xung quanh! Sống ở đó giống như thể  bị lưu đày đến Siberia.

Vì vậy, khi tôi trở về, tôi đề nghị với Ajahn Chah gửi cho tôi đến đó. Ngài đã không gửi tôi đến đó, nhưng ngài khuyến khích tôi đi Bahn Bung Wai,  là một ngôi làng cách tu viện chính khoảng 6 km. Vì vậy, sau đó vào năm 1975, chúng tôi thành lập Wat Pah Nanachat, “tu viện trong rừng quốc tế” gần ngôi làng này. Trước khi chúng tôi tới đó, nơi đây đã là một khu đất để tử thi, một khu vực hỏa táng của làng, và người ta tin rằng khu rừng có đầy ma. Vì vậy, dân làng thường đến và hỏi, “Mọi việc ổn chứ?” Lúc đầu chúng tôi đã không hiểu nơi đây có ý nghĩa gì đối với dân làng. Sau đó, tôi hiểu rằng tôi đang ở một nơi được cho là con ma hung bạo nhất trong rừng đang sống, do đó, trưởng làng thường đến hỏi, “Sư ngủ có ngon không? Có thấy điều gì lạ  không?” Tôi chẳng thấy bất thứ gì cả, những con ma đã không làm phiền tôi. Nhưng kinh nghiệm đó thực sự đã giúp tôi   chứng minh cuộc sống của tôi như là một tu sĩ, và đó là nhờ kataññu.

Cũng như việc tôi tới Anh vào năm 1977. Khi Luang Por Chah yêu cầu tôi đến đây, tôi quyết định  chịu đựng đến cùng,  không để  cảm xúc và tâm trạng riêng của tôi chi phối - bởi vì rằng năm đầu tiên tôi cảm thấy rất khủng khiếp, và tôi đã sẵn sàng để quay trở lại Thái Lan. Nhưng do lòng biết ơn, tôi đã không làm theo ý thích cá nhân, tôi  thấy mình đang đảm đương một nhiệm vụ, một sự phục vụ to lớn, nhưng không cảm thấy nặng nề. Nhờ kataññu nên tôi thấy rằng tôi đã không ở lại đây vì bổn phận – điều này sẽ làm cho cuộc sống khó chịu, nhưng vì sẵn sàng muốn được hy sinh và phục vụ. Đây là một điều vui vẻ để làm. Vì vậy, chúng ta có thể cảm thấy 'kataññu”  cho những vị thầy của chúng ta như Luang Por Chah.

Điều này nhắc tôi nhớ đến một câu chuyện thú vị. Vị tu sĩ đã đưa tôi đến gặp Luang Por Chah cùng tuổi với tôi, ông đã phục vụ trong Hải quân Thái Lan, và tôi đã phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ  trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Ông có thể nói tiếng Anh “bồi” ,và là một du tăng  - đi  từ tỉnh Ubon, nơi Ajahn Chah sống, đến Nong Khai, nơi tôi ở. Đây là năm đầu tiên tôi thực tập làm Sa di và ông là người Tu sĩ Thái đầu tiên tôi đã gặp nói được tiếng Anh, vì vậy tôi đã rất vui khi có người để chuyện trò.

Ông cũng là một nhà sư rất nghiêm ngặt, tuân thủ mọi quy định trong Luật Tạng. Ông thường ăn trong bát và mặc y màu nâu sẫm theo truyền thống tu trong rừng, trong khi ở  tu viện nơi tôi  đang sống, các nhà sư mặc mặc y màu da cam, ông đã thực sự tạo cho tôi một ấn tượng rằng ông là một tu sĩ gương mẫu. Ông nói với tôi  tôi nên đến ở với Ajahn Chah. Vì vậy, sau khi tôi  thọ giới Tỳ khưu, thầy  của tôi đã đồng ý cho phép tôi theo vị sư này đến ở với Luang Por Chah.  Nhưng trên đường, tôi bắt đầu chán  vị tu sĩ này tới tận cổ - người hóa ra lại là một cái của nợ. Ông ta luôn làm cho mọi thứ rối tung  lên và luôn lên án các tu sĩ khác, nói rằng chúng tôi là những nhà sư tốt nhất. Tôi không chịu nổi thói kiêu ngạo không thể tin được này và sự ngã mạn, và tôi hy vọng rằng Ajahn Chah sẽ không giống như ông ta. Tôi tự hỏi mình đang sa chân vào chốn nào đây.

Khi chúng tôi đến Wat Pah Pong, tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì Ajahn Chah không giống như vậy. Năm sau, nhà sư đó, có tên là Sommai, xả y và ông trở thành một người nghiện rượu. Điều duy nhất giữ cho ông ta không uống rượu là cuộc sống trong tu viện, do đó, sau đó, ông lại rơi vào sự nghiện ngập và trở thành một kẻ thoái hóa với một danh tiếng khủng khiếp trong tỉnh Ubon. Ông đã trở thành một kẻ lang thang, một sự thảm hại thực sự, và tôi có một cảm giác ghê tởm và chán ghét đối với ông ta.

Một buổi tối, tôi đã nói chuyện với Ajahn Chah về Sommai, và  ngài đã nói với tôi: "Sư phải luôn có kataññu đối với Sommai, bởi vì ông ta đã đưa sư đến đây. Cho dẫu ông ta có cư xử tệ hại hoặc trở nên thoái hóa đến mấy đi nữa, sư phải luôn đối xử với ông ta giống như với một vị thầy khôn ngoan và bày tỏ lòng biết ơn của sư. Sư có thể là một trong những điều thực sự tốt đẹp đã xảy đến trong đời của ông ta, điều mà ông có thể tự hào, nếu sư tiếp tục nhắc nhở ông ta về điều này - một cách tốt đẹp, không phải  một cách đáng sợ - cuối cùng ông ta có thể sẽ muốn thay đổi lối sống của mình”. Vì vậy, Luang Por Chah khuyến khích tôi tìm Sommai, nói chuyện với ông ta một cách thân thiện và bày tỏ lòng biết ơn của tôi với ông ta do đã đưa tôi đến với Ajahn Chah.

Đó thực sự là một điều đẹp để làm. Thật dễ dàng để nhìn Sommai bằng cái nhìn khinh miệt và nói, “Bạn thực sự làm tôi thất vọng . Bạn thường chỉ trích người khác và tự cho mình là một nhà sư tốt như vậy, và bây giờ hãy nhìn lại bạn kìa”. Chúng ta có thể cảm thấy phẫn nộ và thất vọng về một ai đó do họ đã không sống đúng với kỳ vọng của chúng ta. Nhưng những gì Luang Por Chah đã dạy  là: "Không được như vậy, nó chỉ lãng phí thời gian và có hại, hãy làm những gì thực sự đẹp đẽ vì lòng từ bi."

Đầu năm đó tôi gặp  Sommai, thoái hóa hơn bao giờ hết, tôi thấy ông ta không có bất kỳ sự thay đổi nào. Tuy nhiên, bất cứ khi nào ông ta gặp tôi, nó dường có một chút hiệu ứng tốt đối với ông ta. Ông ta nhớ lại rằng ông  là người chịu trách nhiệm đưa tôi đến ở với Luang Por Chah - và đó là một nguồn của một vài khoảnh khắc hạnh phúc trong cuộc sống của ông ta. Tôi  cảm thấy khá vui do đã tạo được một vài khoảnh khắc hạnh phúc cho một người vô cùng bất hạnh.

Tương tự như vậy, tôi nghĩ về những vị thầy mà tôi không thực sự tự mình biết họ,  ví dụ, Alan Watts, tác giả cuốn sách  'The Way of Zen’ (Con đường thiền tập), là một trong những cuốn sách về Phật giáo, tôi đã đọc trước đây. Nó gây cho tôi mật ấn tượng rất mạnh.  Có được cái gì để đọc về Phật giáo vào thời đó thực sự là một điều vui sướng, và tôi thường đọc đi đọc lại cuốn sách đó. Nhưng sau đó, tôi nghe nói rằng ông ấy đã trở nên thoái hóa. Tôi đã từng gặp ông ấy, khi tôi tham dự một số buổi thuyết giảng của ông ở San Francisco, , mặc dù ông là một diễn giả giỏi, nhưng lúc đó do tôi đang ở trong giai đoạn chỉ trích ông, và thế là tôi thấy ông không đủ tốt đối với tôi.

Vì vậy, bây giờ nhìn lại, tôi cảm thấy kataññu cho những người như Alan Watts, những người viết sách  và các vị thầy đã có trách nhiệm khuyến khích và giúp đỡ tôi khi tôi cần đến. Những gì họ đã làm, hoặc cho dù họ có sống có đúng với  sự mong đợi của tôi  hay không không còn quan trọng. Có lòng từ và kataññu có nghĩa là không chỉ trích, không hận thù, không ôm ấp những điều xấu mà người khác đã làm, nó chính là  khả năng  có thể lựa chọn và ghi nhớ những điều tốt đẹp mà người khác đã làm.

Có một ngày như thế này, khi chúng ta cố ý nghĩ của cha mẹ với lòng biết ơn, là một cách đưa niềm vui và những cảm xúc tích cực vào cuộc sống của chúng ta. Sáng nay, chúng ta đã xin giữ năm giới và cúng dường thực phẩm cho Tăng đoàn như là một cách để hồi hướng phước báu cho cha mẹ của chúng ta với lòng biết ơn là một nghĩa cử đẹp. Vào lúc này, chúng ta cũng nên thể hiện kataññu với đất nước chúng ta đang sống, bởi vì thông thường chúng ta luôn xem những gì chúng ta đang có là những điều mặc nhiên. Chúng ta có thể nhớ đến những lợi lạc, những điều tốt đẹp mà nhà nước và xã hội dành sẵn cho chúng ta, thay vì chỉ chú tâm vào những gì sai trái hoặc những gì chúng ta không thích. Kataññu cho phép chúng ta đưa vào ý thức tất cả những điều tích cực liên quan đến việc sinh sống tại đất nước Anh.

Chúng ta nên phát triển kataññu, mặc dù tư duy của thời buổi  hiện đại  không khuyến khích chúng ta làm như vậy. Đây không phải là chủ nghĩa yêu nước mù quáng hoặc lòng kiêu ngạo dân tộc, nhưng là một sự cảm kích và biểu hiện của lòng biết ơn đối với những cơ hội  và những điều tốt đẹp mà chúng ta nhận được khi sống trong xã hội này. Lối  suy nghĩ này sẽ làm cho cuộc sống của chúng ta vui vẻ hơn thay vì nghĩ rằng đất nước này và xã hội này nợ chúng ta tất cả mọi thứ: "Tôi xứng đáng được nhiều hơn thế này. Họ đã không làm đủ cho tôi. “ Đó là cách suy nghĩ xuất phát từ một tâm dính mắc về phúc lợi, phải không?  Mặc dù biết ơn phúc lợi của Nhà nước, chúng ta cũng nhận ra rằng nó có thể tạo ra trong chúng ta một loại tâm phàn nàn, loại tâm xem mọi thứ là mà mình có được là những điều mặc nhiên.

Lần đầu tiên tôi nhận thấy điều này khi tôi còn phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ trên một con tàu cung ứng đến các căn cứ quân sự giữa Nhật Bản và Phillipines.   Tôi đã trải qua bốn năm trong Hải quân, và trong thời gian này chỉ toàn là sự phàn nàn không ngưng.  Phàn nàn, kêu ca - và chúng tôi đã sử dụng những từ khác nữa , mà tôi sẽ không nói ra đây!  Chúng tôi phàn nàn, kêu ca về tất cả mọi thứ. Trên thực tế, chúng tôi được hưởng mọi loại lợi thế  từ những ngày phục vụ trong quân đội – chẳng hạn như được hưởng các cơ hội giáo dục. Tôi đã có bốn năm học bổng  đại học do đã phục vụ trong quân đội, cũng như nhiều thứ khác mà bây giờ tôi rất biết ơn . Tuy vậy thái độ của chúng tôi lúc đó là cố gắng để có thể lấy được từ chính phủ càng nhiều càng tốt, để sử dụng nó cho lợi ích của chính mình, than phiền về tất cả mọi thứ và xem những gì người ta có thể bòn rút được. Ngay cả khi những gì người ta đang làm là vô đạo đức, bất hợp pháp, đều OK, miễn là bạn không bị bắt.

Và điều này xảy ra trong một xã hội nơi mà tất cả mọi thứ đã được dành cho bạn! Cuộc sống lúc đó là rất bảo đảm, nhưng thái độ của chúng ta là: "Hãy cho tôi, cho tôi, cho tôi. Tôi có thể bòn rút cái gì từ nơi này đây?" Kết quả xã hội trở nên tiêu cực, với những con người tham lam và chỉ biết  than phiền không dứt.

Vì vậy, hôm nay là một ngày để phát triển kataññu. Đừng nghĩ rằng nó chỉ là một ngày để thể hiện tình cảm. Kataññu là một cách tu tập để phát triển cuộc sống hàng ngày của chúng ta vì nó mở rộng  trái tim của chúng ta và mang lại niềm vui cho nhân loại chúng ta . Và chúng ta cần niềm vui, nó nuôi dưỡng chúng ta và cũng là điều thiết yếu cho sự phát triển tâm linh của chúng ta. Niềm vui là một trong những yếu tố của sự giác ngộ. Cuộc sống không có niềm vui là một cuộc ảm đạm -  xám xịt, tối tăm và phiền muộn. Vì vậy, hôm nay là một ngày dành cho những hồi ức vui vẻ.

Theo: Gratitude to Parents

Người dịch: Supañña

Gửi Ý kiến

B
i
u
Quote
Code
List
List item
URL
Tên của Quý vị *
Địa chỉ email của Quý vị
Địa chỉ website
Mã xác nhận   
Gửi Ý kiến
Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 31 Tháng 3 2014 18:35 )  
Bài mới nhấtBài đã đăng
Symbol
Phật Giáo Trong Đời Thường